9 Cuộc suy thoái kinh tế tồi tệ nhất mà Hoa Kỳ từng trải qua

-
L. Jade
-
12.09.2020

Suy thoái kinh tế là “sự suy giảm đáng kể trong hoạt động kinh tế lan rộng trong nền kinh tế , kéo dài hơn 6 tháng, thường có thể nhìn thấy ở tổng sản phẩm quốc nội (GDP), thu nhập thực, tỷ lệ thất nghiệp, sản xuất công nghiệp và thương mại. Tính đến nay Hoa Kỳ đã trải qua 47 cuộc suy thoái kể từ năm 1777 – sau Hiệp ước Liên Bang, trong đó có 9 cuộc đại suy thoái để lại hậu quả tồi tệ nhất cho Mỹ.

#1. Đại khủng hoảng 1929 – 1933

Thời gian kéo dài: 3 năm 7 tháng

Tỷ lệ thất nghiệp: 24.9%

GDP: Giảm 26.7%

Đây là đợt suy thoái dài nhất, sâu nhất và lan rộng nhất trong thế kỷ 20. Cuộc Đại suy thoái thường được sử dụng như một ví dụ về mức độ suy giảm của nền kinh tế toàn cầu.

Cuộc Đại suy thoái bắt đầu ở Hoa Kỳ sau khi giá cổ phiếu sụt giảm nghiêm trọng bắt đầu vào khoảng ngày 4 tháng 9 năm 1929, từ đó thị trường chứng khoán thế giới bắt đầu sụp đổ (29/10). Từ năm 1929 đến năm 1932, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên toàn thế giới đã giảm khoảng 15%.

Cuộc Đại suy thoái đã có những tác động tàn khốc ở cả các nước giàu và nghèo. Thu nhập cá nhân , doanh thu thuế, lợi nhuận và giá cả giảm, trong khi thương mại quốc tế giảm hơn 50%. Tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ tăng lên 24.9% và ở một số quốc gia tăng cao tới 33%.

suy thoai kinh te Hoa Ky

#2. Suy thoái kinh tế 1920 – 1921

Thời gian kéo dài: 1 năm 6 tháng

Tỷ lệ thất nghiệp: 11,9%

Hoạt động thương mại: Giảm 38.1%

Khi nền kinh tế Mỹ chưa kịp phục hồi sau suy thoái Thế chiến thứ I, thì cuộc suy thoái 1920 – 1921 như giáng thêm một đòn vào nước này.

Quân đội trở về sau chiến tranh tạo ra sự gia tăng lực lượng lao động, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, giá hàng hóa nông nghiệp giảm do sản lượng nông nghiệp châu Âu phục hồi sau chiến tranh làm tăng nguồn cung, chính sách tiền tệ thắt chặt hơn để chống lạm phát sau chiến tranh năm 1919, tỷ lệ đầu tư giảm – là những nguyên nhân tạo nên cuộc suy thoái 1920 – 1921.

Hậu quả gây ra:  Tỷ lệ thất nghiệp tăng từ 5,2% lên 11,7%. Trong thời kỳ suy thoái, sản xuất công nghiệp đã có sự suy giảm cực kỳ nghiêm trọng. Từ tháng 5 năm 1920 đến tháng 7 năm 1921, sản lượng ô tô giảm 60% và tổng sản lượng công nghiệp giảm 30%. Thị trường cổ phiếu chạm đáy vào ngày 24 tháng 8 năm 1921, ở mức 63,9, giảm 47%.

#3.  Khủng hoảng 1893

Thời gian kéo dài: 1 năm 5 tháng

Tỷ lệ thất nghiệp: 18,4%

Hoạt động thương mại: Giảm 37.3%

Một trong những nguyên nhân dẫn đến Sự hoảng loạn năm 1893 có thể bắt nguồn từ Argentina. Đầu tư đã được khuyến khích bởi ngân hàng Baring Brothers tại Argentina . Cùng lúc đó, vụ việc lúa mì mất mùa 1890 và cuộc đảo chính ở Buenos Aires đã chấm dứt các kế hoạch đầu tư.

Lo ngại về tình trạng nền kinh tế giảm sâu, người dân đổ xô rút tiền ra khỏi ngân hàng và gây ra tình trạng “cháy” ngân hàng . Cuộc khủng hoảng tín dụng lan rộng khắp nền kinh tế. Đồng thời, một cuộc khủng hoảng tài chính ở London kết hợp với sự sụt giảm thương mại lục địa châu Âu đã khiến các nhà đầu tư nước ngoài ồ ạt bán cổ phiếu của Mỹ,

Hậu quả: Giá cổ phiếu sụt giảm. Năm trăm ngân hàng đóng cửa, 15.000 doanh nghiệp không có lợi nhuận và nhiều trang trại ngừng hoạt động. Tỷ lệ thất nghiệp đạt 25% ở Pennsylvania, 35% ở New York và 43% ở Michigan. Những bếp ăn từ thiện được mở ra để giúp nuôi sống những người nghèo khổ. Đối mặt với nạn đói, người dân chặt củi, phá đá,… để đổi lấy thức ăn. Một số phụ nữ thậm chí phải bán d.âm để nuôi sống gia đình.

Tổng thống Grover Cleveland bị đổ lỗi là nguyên nhân cho cuộc khủng hoảng. Lượng vàng dự trữ trong Kho bạc Mỹ giảm xuống mức thấp nhất lịch sử. Điều này buộc Tổng thống Cleveland phải vay 65 triệu USD vàng từ ngân hàng Phố Wall JP Morgan và Rothschild của Anh.

suy thoai kinh te Hoa Ky

#4.  Khủng hoảng dài nhất lịch sử – Khủng hoảng 1873

Thời gian kéo dài: 5 năm 5 tháng

Tỷ lệ thất nghiệp: 8.25%

Hoạt động thương mại: Giảm 33.6%

Cuộc khủng hoảng năm 1873 là một cuộc khủng hoảng tài chính gây ra suy thoái kinh tế ở Châu Âu và Bắc Mỹ kéo dài từ năm 1873 đến năm 1877 và đến tận 1879 ở Pháp và ở Anh . Ở Anh, khủng hoảng làm suy yếu vai trò lãnh đạo của các ông trùm kinh tế. Tại Hoa Kỳ , cơn hoảng loạn được biết đến với cái tên “Đại suy thoái” cho đến cuộc suy thoái năm 1929.

Nguyên nhân của cuộc suy thoái được cho là bắt nguồn từ: Lạm phát của Mỹ , đầu cơ tràn lan (chủ yếu vào đường sắt ), bác bỏ tiền tệ bằng bạc ở Đức và Hoa Kỳ, những gợn sóng do kinh tế bất ổn ở châu Âu do Chiến tranh Pháp-Phổ (1870–1871), và những thiệt hại lớn về tài sản ở vụ cháy lớn ở Chicago(1871) và Đại hỏa hoạn Boston (1872) đã gây ra áp lực lớn cho các khoản dự trữ ngân hàng. Tại Thành phố New York, quỹ dự trữ giảm mạnh từ 50 triệu đô la xuống 17 triệu đô la từ tháng 9 đến tháng 10 năm 1873.

Hậu quả: Các nhà máy bắt đầu sa thải công nhân khi đất nước rơi vào tình trạng suy thoái. Ảnh hưởng của cơn hoảng loạn nhanh chóng được cảm nhận ở New York và chậm hơn ở Chicago; Thành phố Virginia, Nevada , nơi hoạt động khai thác bạc; và San Francisco.

Sàn giao dịch chứng khoán New York đóng cửa trong mười ngày, bắt đầu từ ngày 20 tháng 9. Đến tháng 11/1873, khoảng 55 tuyến đường sắt của quốc gia đã bị hỏng và 60 tuyến đường khác bị phá sản. Tỷ lệ thất nghiệp đạt đỉnh vào năm 1878, ở mức 8,25%. Việc xây dựng nhiều tòa nhà bị tạm dừng, tiền lương bị cắt giảm, giá trị bất động sản giảm và lợi nhuận của công ty sụt giảm nghiêm trọng.

#5. Khủng hoảng năm 1882 – 1885

Thời gian kéo dài: 5 năm 5 tháng

Tỷ lệ thất nghiệp: 8.25%

Hoạt động thương mại: Giảm 33.6%

Suy thoái 1882–1885 hay suy thoái 1882–1885 là một đợt suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ kéo dài từ tháng 3 năm 1882 đến tháng 5 năm 1885 . Với độ dài 38 tháng, đây là cuộc suy thoái dài thứ ba trong niên đại chu kỳ kinh doanh của NBER từ năm 1854 đến nay.

Nguyên nhân: Giống như cuộc khủng hoảng 1873 trước đó, cuộc suy thoái 1882–85 là một cuộc suy thoái về giá cả hơn là một cuộc suy thoái sản xuất – trong đó giá cả và tỷ lệ tiền lương giảm xuống trong khi tổng sản lượng không đổi.

Cuộc suy thoái này được cho là do nhiều nguyên nhân: những khiếm khuyết trong hệ thống ngân hàng, sử dụng lao động trẻ em, những tác động tiêu cực của độc quyền doanh nghiệp, sự thiếu niềm tin của công chúng vào tương lai của nền kinh tế, …

Hậu quả: Cuộc suy thoái năm 1884 diễn ra nghiêm trọng với ước tính 5% tổng số nhà máy và hầm mỏ của Mỹ đóng cửa hoàn toàn trong 12 tháng kể từ ngày 1/7/1884 đến 1/7/1885.

suy thoai kinh te Hoa Ky

#6. Suy thoái kinh tế 1937 – 1938

Thời gian kéo dài: 1 năm 1 tháng

Tỷ lệ thất nghiệp: 19%

GDP: Giảm 33.6%

Các nhà kinh tế học theo trường phái Keynes đổ lỗi cho việc cắt giảm chi tiêu liên bang và tăng thuế trước sự kiên quyết của Bộ Tài chính Hoa Kỳ. Nhà sử học Robert C. Goldston cũng lưu ý rằng hai chương trình việc làm quan trọng của New Deal đã bị cắt giảm mạnh ngân sách.

Những người theo chủ nghĩa tiền tệ , chẳng hạn như Milton Friedman , đổ lỗi cho việc Cục Dự trữ Liên bang thắt chặt nguồn cung tiền vào năm 1936 và 1937.

Hậu quả: Sản lượng và lợi nhuận giảm mạnh. Tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt từ 14,3% năm 1937 lên 19,0% năm 1938.

Xem thêm: 10 Dự báo kinh tế Hoa Kỳ trong thập kỷ tới

#7. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu đầu tiên – Suy thoái 1857

Thời gian kéo dài: 1 năm 6 tháng

Hoạt động thương mại: Giảm 23.1%

Suy thoái năm 1857 là một cuộc khủng hoảng tài chính ở Hoa Kỳ do nền kinh tế quốc tế suy giảm và nền kinh tế trong nước mở rộng quá mức. 

Nền kinh tế thế giới cũng liên kết với nhau hơn vào những năm 1850, điều này cũng làm cho Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1857 trở thành cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đầu tiên.

Hậu quả: Kết quả của cuộc khủng hoảng năm 1857 là nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp miền Nam, vốn có ít đường sắt bị thiệt hại ít, nhưng nền kinh tế miền Bắc đã bị ảnh hưởng đáng kể và phục hồi chậm. Khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi suy thoái  là khu vực Great Lake ,Tình trạng tồi tệ nhanh chóng lan sang khu vực phía Đông, bị phụ thuộc vào doanh số bán hàng của giới tài chính.

#8. Đại suy thoái 2007 – 2009

Thời gian kéo dài: 1 năm 6 tháng

Tỷ lệ thất nghiệp: 5.1%

GDP: Giảm 10%

Cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2008 , còn được gọi là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu ( GFC ), là một cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng trên toàn thế giới. Nợ thế chấp nhà của Hoa Kỳ so với GDP tăng từ mức trung bình 46% trong những năm 1990 lên 73% trong năm 2008, đạt 10,5 nghìn tỷ USD.

Nguyên nhân: Bong bóng nhà ở bị vỡ vì người dân đổ xô đi mua nhà, các điều kiện ràng buộc trong vay tài chính lỏng lẻo, sự đổi mới trong quản lý tài chính chưa thích hợp, ngân hàng ma mở ra hàng loạt và cũng đóng cửa hàng loạt, tình trạng lạm phát lên mức báo động, hệ thống chủ nghĩa tư bản … được cho là nguyên nhân chính gây ra đại suy thoái 2007 – 2009.

Hậu quả: Mọi thứ trở nên căng thẳng vào cuối năm đó với sự phá sản của Lehman Brothers – ngân hàng đầu tư lớn thứ tư của đất nước. Theo Cục Thống kê Lao động Hoa Kỳ, Mỹ đã sa thải hơn 8,7 triệu người làm công, khiến tỷ lệ thất nghiệp tăng gấp đôi. Hộ gia đình Mỹ mất khoảng 19 nghìn tỷ USD giá trị ròng do thị trường chứng khoán lao dốc.

suy thoai kinh te Hoa Ky

#9. Khủng hoảng kinh tế 2020 – Covid-19

Đại dịch COVID-19 đã dẫn đến hơn một phần ba dân số thế giới được đặt trong tình trạng lock – down để ngăn chặn sự lây lan của COVID-19.  Nó đã gây ra hậu quả nghiêm trọng cho các nền kinh tế trên toàn thế giới, cuộc khủng hoảng này tiếp nối ngay sau đợt suy thoái kinh tế toàn cầu trong năm 2019 khiến thị trường chứng khoán và hoạt động tiêu dùng trên toàn thế giới đình trệ.

Nguyên nhân: Như tên gọi, cuộc khủng hoảng gây ra bởi Đại dịch Covid-19 bắt đầu từ tỉnh Vũ Hán, Trung Quốc; hệ lụy của dịch bệnh đã kéo theo tình trạng bắt buộc cách ly – ảnh hưởng trực tiêp đến nhiều loại hình kinh doanh, đặc biệt là những doanh nghiệp cung cấp dịch vụ (bao gồm cửa hàng bán lẻ, nhà hàng và khách sạn, địa điểm giải trí và bảo tàng, văn phòng y tế, thẩm mỹ viện và spa). Ngoài ra, cuộc chiến Cuộc chiến giá dầu giữa Nga và Ả Rập Xê út làm trầm trọng thêm tình hình kinh tế.

Hậu quả: Khoảng 16 triệu người bị thất nghiệp trong vòng ba tuần. Hồ sơ hỗ trợ thất nghiệp đạt mức cao kỷ lục, với 3,3 triệu đơn yêu cầu được đưa ra trong 1 tuần. (Kỷ lục trước đó là 700.000 từ năm 1982.)

Sự bảo trợ của các nhà hàng giảm mạnh trên toàn quốc, các hãng hàng không lớn giảm hoạt động trên quy mô lớn. Các nhà sản xuất xe hơi Big Three đều ngừng sản xuất. Vào tháng 4, việc xây dựng nhà mới giảm 30%, đạt mức thấp nhất trong 5 năm. Khoảng 5,4 triệu người Mỹ đã mất bảo hiểm y tế từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2020 sau khi mất việc làm.

Trên đây là 9 Cuộc suy thoái kinh tế tồi tệ nhất mà Hoa Kỳ từng trải qua. Kinh tế rồi sẽ được khôi phục lại miễn là cho nó đủ thời gian và phương hướng chính xác. Cập nhật VNailNews để theo dõi các phương án nhằm bảo vệ tài chính của bạn.

 

Cùng chuyên mục
Tin mới
Tin nổi bật
Loading...
... Tin Đăng ... Home ... Bài Viết